Pháp luật - Báo tin tức hình sự, tìm hiểu văn bản, thư viện pháp luật Việt Nam mới nhất. Theo luật sư của Công ty Quốc Cường Gia Lai, cơ quan tiến hành tố tụng đang có một số hiểu lầm trong cách xác định thiệt hại của vụ án. Thừa Thiên - Huế: Bắt giám đốc công Như vậy, quy định về thời hạn sở hữu nhà chung cư không được trái với quy định chung về sở hữu tài sản theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 không có khái niệm "thời hạn sở hữu tài sản". Tổng hợp nhận định đúng sai môn Luật hình sự. 4. Tổng hợp nhận định đúng sai môn Luật Dân sự. 13. Tổng hợp nhận định đúng sai môn Luật Hôn nhân và gia đình. 14. Tổng hợp nhận định đúng sai môn Luật Tố tụng hành chính. Top 10 tiền vệ tấn công hay nhất Thuật ngữ pháp lý có ý nghĩa rất lớn đối với việc nghiên cứu khoa học pháp lý cũng nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc giải thích các quy định của pháp luật.Ở Việt Nam, các văn bản pháp luật thường dành một điều (thường nằm ở chương Quy định chung) để giải thích các thuật ngữ pháp lý (tên gọi những quy định chung, những tin tức và sự kiện về những quy định chung cập nhật liên tục và mới nhất năm 2022. Các chủ để liên quan đến những quy định chung hấp dẫn và đầy đủ mang đến cho bạn đọc thông tin hữu ích và nhanh nhất 1. Đã có thẻ Luật sư (Thời gian được cấp thẻ luật sư tối thiểu 02 năm), ưu tiên am hiểu chuyên môn về doanh nghiệp, đầu tư, tranh tụng; 2. Trung thực và nhiệt tình trong công việc, không được nhận công việc ngoài trong thời gian làm việc tại Công ty; 3. a) Tiếp cận đầy đủ nội dung công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành; hiểu rõ điều kiện, điều khoản trái phiếu và các cam kết khác của doanh nghiệp phát hành trước khi quyết định mua và giao dịch trái phiếu. b) Hiểu rõ về các rủi ro phát sinh trong việc đầu tư DXIC. Mời các bạn cùng tham khảo bộ câu hỏi nhận định đúng sai môn Luật công chứng có đáp án mới nhất được VnDoc cập nhật và đăng thêm các thông tin về Câu hỏi nhận định môn luật công chứng Dưới đây là một số bài tập tình huống môn Luật công chứng có gợi ý đáp án xin chia sẻ để các bạn tham khảo ôn tập, chuẩn bị cho kỳ [Xem thêm…] 1. Chứng thực chữ ký là gì? Chứng thực chữ ký là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận tính chính xác hợp pháp của chữ ký trong giấy [Xem thêm…] So sánh phòng công chứng và văn phòng công chứng để chỉ rõ điểm giống và khác nhau cơ bản giữa 2 loại hình tổ chức hành nghề công chứng này. Sự [Xem thêm…] Tóm tắt Sau gần 3 năm triển khai thi hành, Luật Công chứng năm 2014 được xem là hành lang pháp lý quan trọng tạo thuận lợi cho các chủ thể tham [Xem thêm…] Tổng hợp các câu hỏi nhận định môn Luật công chứng có đáp án để bạn tham khảo, ôn tập chuẩn bị cho kỳ thi sắp tới đạt kết quả tốt. [Xem thêm…] Tổng hợp những văn bản hướng dẫn liên quan đến công chứng bao gồm các luật, nghị định, thông tư còn hiệu lực để quý bạn đọc nghiên cứu. LUẬT 1. Luật Công [Xem thêm…] Việc công chứng góp phần bảo đảm tính an toàn pháp lý trong các giao dịch, do đó hoạt động công chứng ngày một phát triển. Với sự ra đời của Luật [Xem thêm…] Mình đã tổng hợp các văn bản liên quan đến công chứng còn hiệu lực, các bạn có thể bổ sung thêm để nội dung được hoàn thiện hơn. LUẬT Luật Công [Xem thêm…] Trong bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích và chỉ ra những điểm bất hợp lý của cơ chế bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo Luật [Xem thêm…] Chiếm 50% bài thi cuối LUẬT CÔNG CHỨNG 1. Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi thực hiện công chứng, công chứng viên chỉ xác nhận có giao dịch, hợp đồng được xác lập trên thực tế, tổ chức cá nhân giao kết hợp đồng, giao dịch phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch. TL Sai. Đ2 LCC. Công chứng viên khi thực hiện việc công chứng không chỉ xác nhận có giao dịch, hợp đồng được xác lập trên thực tế tính xác thực mà còn chứng nhận tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, đồng thời, cùng với các bên trong giao dịch, hợp đồng chịu trách nhiệm pháp lý về tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đó. 2. Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc công chứng bản sao được thực hiện bởi Ủy ban nhân dân cấp quận và Ủy ban nhân dân cấp xã. TL Sai. Đ2 LCC. Đối tượng công chứng không phải bản sao mà là giao dịch, hợp đồng. Việc công chứng không được thực hiện bởi UBND các cấp mà được thực hiện ở các tổ chức hành nghề công chứng, bởi các công chứng viên. 3. Theo quy định của pháp luật hiện hành, công chứng viên chỉ công chứng đối với những hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải công chứng. TL Sai. Đ2 LCC. Ngoài những hợp đồng, giao dịch bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng, công chứng viên còn thực hiện công chứng đối với những giao dịch, hợp đồng bằng văn bản mà cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. 4. Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng. TL Sai. K2 Đ39 LCC quy định những trường hợp việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, đó là người yêu cầu công chứng là người già yếu không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng. Như vậy, không phải lúc nào việc công chứng cũng bắt buộc phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng. 5. Theo quy định của pháp luật hiện hành, tổ chức hành nghề công chứng gồm có Phòng công chứng nhà nước và Văn phòng công chứng. TL Sai. Đ23 LCC. Hình thức tổ chức hành nghề công chứng gồm phòng công chứng và văn phòng công chứng. Không có khái niệm phòng công chứng nhà nước, vì nếu thêm từ “nhà nước” vào “phòng công chứng” sẽ tạo ra sự bất bình đẳng giữa phòng công chứng và văn phòng công chứng, dễ gây hiểu lầm việc công chứng ở phòng công chứng có giá trị hơn việc công chứng ở văn phòng công chứng. 6. Tất cả các văn bản công chứng đều được sử dụng làm chứng cứ trước Tòa án. TL Sai. K2 Đ6 LCC, Đ81 BLTTDS, Đ64 BLTTHS. Chỉ những văn bản công chứng có hiệu lực, có chứa tình tiết cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc mới được dùng làm chứng cứ. 7. Công chứng viên phải cung cấp những thông tin về người yêu cầu công chứng khi cơ quan báo chí yêu cầu. TL Sai. đa k1 Đ12, k2 Đ22, Đ54. 8. Hoạt động công chứng là một trong những hoạt động tư pháp của nhà nước nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. TL Sai. Hoạt động tư pháp là những hoạt động điều tra, xét xử, kiểm sát, thi hành án… do cơ quan nhà nước thực hiện. Hoạt động công chứng không được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước mà bởi các tổ chức hành nghề công chứng, mang tính dịch vụ, có ý nghĩa bổ trợ tư pháp. 9. Theo quy định của pháp luật hiện hành, văn bản công chứng bị sai lỗi kỹ thuật có thể được sửa bởi công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng. TL Đúng. K2 Đ43 LCC. Việc sửa lỗi kỹ thuật văn bản công chứng phải được thực hiện bởi công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động hoặc giải thể thì công chứng viên thuộc tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật. 10. Theo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân, tổ chức phải trực tiếp thực hiện thủ tục công chứng đối với tất cả hợp đồng, giao dịch. TL Sai. Đ8, Đ48 LCC. Nếu người yêu cầu công chứng là tổ chức thì việc yêu cầu công chứng được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của tổ chức đó. Trường hợp công chứng di chúc, người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng, không ủy quyền cho người khác yêu cầu công chứng di chúc. 11. Công chứng viên chỉ được thực hiện việc công chứng đối với những hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản tại địa bàn quận, huyện, thị xã nơi có trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng. TL Sai. k1 Đ37 LCC. Đối với hợp đồng, giao dịch về bất động sản, công chứng viên được thực hiện việc công chứng ở mọi quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở. 12. Công chứng viên được hành nghề tự do. TL Sai. Đ22 LCC. Công chứng viên được lựa chọn nơi để hành nghề công chứng, trừ công chứng viên của Phòng công chứng. Tuy nhiên, công chứng viên chỉ được hành nghề tại một tổ chức hành nghề công chứng. 13. Công chứng viên không được kiêm nhiệm. TL Đúng. Đ2 NĐ04/2013. Công chứng viên phải hành nghề chuyên trách; không được đồng thời hành nghề khác, không được kiêm nhiệm các chức danh tư pháp như luật sư, đấu giá viên, trọng tài viên, thừa phát lại hoặc các chức danh tư pháp khác. 14. Mọi tổ chức, cá nhân đều có thể được cung cấp dịch vụ công chứng ngoài trụ sở. TL Sai. k2 Đ39 LCC. Chỉ trong trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng mới có thể được cung cấp dịch vụ công chứng ngoài trụ sở. 15. Công chứng viên được tự do thỏa thuận về mức phí công chứng các hợp đồng, giao dịch. TL Sai. k2 Đ56 LCC. Công chứng viên không được tự do thỏa thuận về mức phí công chứng các hợp đồng, giao dịch. Mức thu, chế độ thu, nộp, sử dụng và quản lý phí công chứng phải được thực hiện theo quy định của pháp luật. 16. Người đã vi phạm pháp luật thì không được bổ nhiệm làm công chứng viên. TL Sai. k1, 2 Đ19 LCC. Chỉ những người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm do vô ý; đã bị kết án về tội phạm do cố ý; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính thì mới không được bổ nhiệm công chứng viên. Các đối tượng vi phạm pháp luật mà không nằm trong những trường hợp nêu trên ví dụ như người đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích về tội phạm do vô ý và thỏa các điều kiện, tiêu chuẩn thì có thể được bổ nhiệm làm công chứng viên. 17. Công chứng viên có thể chuyển sang hành nghề luật sư. TL Sai. Công chứng viên không được chuyển sang hành nghề luật sư. 18. Tất cả các cá nhân sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam có bằng cử nhân luật đều có thể được bổ nhiệm làm công chứng viên. TL Sai. Chỉ những công dân Việt Nam chứ không phải tất cả cá nhân sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam thỏa mãn các tiêu chuẩn, điều kiện luật định mới có thể được bổ nhiệm làm công chứng viên. 19. Người đã vi phạm pháp luật hình sự thì không được bổ nhiệm làm công chứng viên. TL Sai. k1 Đ19 LCC. Chỉ những người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm do vô ý, đã bị kết án về tội phạm do cố ý mới không được bổ nhiệm làm công chứng viên. Như vậy, những đối tượng vi phạm pháp luật hình sự mà không thuộc các trường hợp nêu trên ví dụ như người đã bị kết án mà được xóa án tích về tội phạm do vô ý thì vẫn được bổ nhiệm làm công chứng viên. 20. Tất cả các công chứng viên đều phải là người đã được đào tạo nghề công chứng. TL Sai. Đ15 LCC. Những người thuộc đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng có thể được bổ nhiệm công chứng viên mà không cần qua đào tạo. PHẦN LUẬT LUẬT SƯ 1. Luật sư là chức danh tư pháp được bổ nhiệm bởi Bộ trưởng Bộ Tư pháp. TL Sai. Chức danh tư pháp là một chức danh trong cơ quan tư pháp, cơ quan nhà nước còn luật sư chỉ là một chức danh nghề nghiệp, không nhân danh nhà nước để thực hiện hoạt động của mình. Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề cho luật sư, tư cách luật sư chính thức được xác lập bởi Đoàn luật sư - chủ thể cấp thẻ luật sư. 2. Tất cả các luật sư đều phải gia nhập vào một Đoàn luật sư tại nơi luật sư thường trú. TL Sai. k1 Đ20 LLS. Luật sư phải gia nhập Đoàn luật sư tại nơi luật sư làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư, hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức hoặc thành lập, tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư chứ không phải tại nơi luật sư thường trú. 3. Sự tham gia bào chữa của luật sư là bắt buộc trong tất cả các vụ án hình sự. TL Sai. Ngay cả trong trường hợp vụ án yêu cầu có luật sư, Đoàn luật sư đã chỉ định luật sư bào chữa, bị cáo vẫn có quyền từ chối luật sư tham gia bào chữa, vì bào chữa trong vụ án hình sự là quyền chứ không phải là nghĩa vụ. 4. Khi tham gia vụ án hình sự, tất cả các luật sư đều phải có trách nhiệm bào chữa cho bị cáo. TL Sai. k1 Đ22 LLS. Các đối tượng trong vụ án hình sự có thể là người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự... Luật sư tham gia tố tụng trong những vai trò tương đương với tư cách là người bào chữa cho những đối tượng đó, chứ không phải lúc nào cũng phải bào chữa cho bị cáo. Trong một số vụ án, luật sư còn tham gia với tư cách đồng buộc tội bị cáo với Viện kiểm sát. 5. Người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư phải tự mình gửi hồ sơ đến Bộ tư pháp. TL Sai. Đ17 LLS. Người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư gửi hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư cho Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư, Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư chuyển hồ sơ cho Sở Tư pháp. Người được miễn tập sự hành nghề luật sư gửi hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư cho Sở Tư pháp nơi người đó thường trú. Sở Tư pháp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, sau đó chuyển hồ sơ cho Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. 6. Luật sư được tự do thỏa thuận về mức thù lao đối với tất cả các vụ việc. TL Sai. k1 Đ56, Đ57 LLS. Luật sư được tự do thỏa thuận mức thù lao nhưng không phải trong mọi vụ việc. Mức thù lao của luật sư tham gia tố tụng trong vụ án hình sự không được vượt quá mức trần thù lao do Chính phủ quy định. Luật sư tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tùng được nhận thù lao và được thanh toán chi phí theo quy định của Chính phủ. 7. Người đã vi phạm pháp luật hình sự vẫn có thể được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. TL Đúng. đd k4 Đ17 LLS. Chỉ những người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý thì mới không được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Người vi phạm pháp luật hình sự, đã bị kết án mà đã được xóa án tích về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý thì vẫn có thể được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. 8. Người đã hoàn thành khóa đào tạo nghề luật sư thì được hành nghề luật sư. TL Sai. Đ11 LLS. Hoàn thành khóa đào tạo nghề luật sư chỉ là một trong những tiêu chuẩn luật sư. Muốn hành nghề luật sư, ngoài việc có đủ các tiêu chuẩn luật sư, còn phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư. 9. Luật sư không thuyết phục được Hội đồng xét xử giảm án cho khách hàng theo thỏa thuận thì phải bồi thường thiệt hại. TL Sai. Đ5, 21 LLS. Luật sư phải sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng còn việc giải quyết vụ án là phụ thuộc vào Hội đồng xét xử và nhiều yếu tố khác. Luật sư không phải bồi thường thiệt hại nếu đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo nguyên tắc luật định mà vẫn không đạt được kết quả như ý muốn của khách hàng. 10. Người tập sự hành nghề luật sư có thể nhận vụ, việc từ khách hàng và chuyển cho luật sư hướng dẫn giải quyết. TL Sai. Đ14 LLS. Luật sư phải nhận vụ việc một cách trực tiếp thì mới có thể nắm rõ tình tiết vụ việc, xem khả năng của mình có phù hợp hay không, giải thích cho khách hàng biết quyền và nghĩa vụ của họ và trách nhiệm của luật sư chứ không nhận vụ việc qua trung gian. Người tập sự hành nghề luật sư được giúp luật sư hướng dẫn trong hoạt động nghề nghiệp nhưng không được đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng tại phiên tòa, không được ký văn bản tư vấn pháp luật. 11. Ngay khi phát hiện khách hàng có hành vi vi phạm pháp luật luật sư phải tố giác với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. TL Sai. Đ5, 10 LLS. Trước khi tố giác phải giải thích và hướng dẫn khách hàng tự mình thông báo với cơ quan nhà nước, hỗ trợ cho khách hàng tự thú… Nếu khách hàng không nghe theo thì luật sư phải chấm dứt hợp đồng để không còn mang tư cách bảo vệ khách hàng, rồi sau đó mới tố giác với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì tiêu chuẩn và nguyên tắc chính yếu hành nghề luật sư là tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. 12. Luật sư không được nhận bảo vệ quyền lợi cho những khách hàng có liên quan trong cùng một vụ, việc. TL Sai. đa k1 Đ9 LLS. Luật sư có thể cung cấp dịch vụ pháp lý cho những khách hàng có liên quan trong cùng một vụ việc với điều kiện các khách hàng này không có quyền lợi đối lập với nhau trong vụ việc đó. 13. Mọi trường hợp đã bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư đều có thể được cấp lại. TL Sai. k4 Đ19 LLS. Người bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư do đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý thì không được cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư. 14. Luật sư đã hành nghề trong tổ chức luật sư thì không được hành nghề tự do. TL Đúng. Đ23 LLS. Luật sư lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân. 15. Luật sư chỉ được tham gia thành lập một tổ chức hành nghề luật sư tại nơi có trụ sở của Đoàn luật sư mà luật sư đó là thành viên. TL Sai. k4 Đ32 LLS. Nhận định này là đúng đối với văn phòng luật sư nhưng đối với công ty luật nhiều luật sư thì không đúng. Trong trường hợp luật sư ở các Đoàn luật sư khác nhau củng tham gia thành lập một công ty luật thì có thể lựa chọn thành lập và đăng ký hoạt động tại địa phương nơi có Đoàn luật sư mà một trong các luật sư đó là thành viên. 16. Tất cả các luật sư đều phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. TL Sai. k2 Đ49 LLS. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp nếu có thỏa thuận trong hợp đồng. Luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư thì trách nhiệm mua bảo hiểm thuộc về tổ chức hành nghề luật sư chứ không phải cá nhân luật sư. 17. Luật sư được thỏa thuận về mức thưởng nếu giúp khách hàng thắng kiện. TL Sai. đđ k1 Đ9 LLS. Luật sư chỉ được nhận thù lao và chi phí hợp lý khác như đã thỏa thuận trong hợp đồng, không được nhận hay đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền hay lợi ích nào khác từ khách hàng. Quy định này nhằm tránh làm ảnh hưởng đến tâm lý luật sư khi giải quyết vụ việc. 18. Khi tham gia bào chữa cho bị cáo trong vụ án hình sự, luật sư được cung cấp chứng cứ trước Hội đồng xét xử. TL Sai. Luật sư có thể thu thập tài liệu có giá trị chứng cứ nhưng cơ quan có thẩm quyền thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự chỉ là những cơ quan có chức năng điều tra. Tài liệu do luật sư thu thập chỉ có giá trị chứng cứ nếu có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu luật sư trình chứng cứ trước Hội đồng xét xử thì phiên tòa tạm dừng để thẩm tra. 19. Tổ chức luật sư toàn quốc là cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý đối với các hoạt động của luật sư Việt Nam. TL Sai. Đ64, 65 LLS. Tổ chức luật sư toàn quốc không phải là cơ quan nhà nước mà chỉ là tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư trong phạm vi cả nước, thực hiện chức năng quản lý đối với hoạt động của luật sư Việt Nam. 20. Bị cáo không được từ chối luật sư được chỉ định. TL Sai. k3, 4 Đ27 LLS. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người đại diện cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất đều có quyền từ chối luật sư. MỘT SỐ CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH VÀ BÀI TẬP TÌNH HUỐNGHKI-2019-2010-Phần 1. Nhận định đúng saiA. CÔNG CHỨNGGiá trị pháp lý của di chúc lập tại UBND xã và Phòng công chứng là như thủ tục công chứng liên quan đến bất động sản đều phải được thực hiện tại Tổ chức hành nghềcông chứng có trụ sở tại nơi có bất động bản công chứng có hiệu lực kể từ khi Công chứng viên ghi lời chứng và ký mọi trường hợp, khi thực hiện thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch, người yêu cầu côngchứng đều phải thực hiện việc ký và điểm chỉ trước mặt công chứng chứng viên có quyền từ chối công chứng trong tất cả các trường hợp ngay khi công chứngviên phát hiện nội dung của hợp đồng, giao dịch là trái pháp luật hay trái đạo đức xã đến tổ chức hành nghề công chứng để yêu cầu công chứng các hợp đồng, giao dịch, người yêucầu công chứng phải soạn thảo sẵn các hợp đồng, giao dịch và nộp cho tổ chức hành nghề trường hợp tuổi cao, sức yếu không thể đi lại được, thì người để lại di chúc có thể ủy quyềncho người khác đến tổ chức hành nghề công chứng và yêu cầu công chứng thủ tục để lại di chúccủa xác nhận tình trạng hôn nhân chỉ được sử dụng vào mục đích đăng ký kết hônTất cả mọi giấy tờ, tài liệu đều có thể thực hiện thủ tục chứng thực bản sao từ bản dịch công chứng có giá trị chứng cứ; những nội dung trong bản dịch không phải chứng phòng công chứng A mới đi vào hoạt động nên phát tờ rơi quảng cáo cho văn phòng mìnhCông chứng viên được hành nghề tự chồng có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung do vợ chồng lập ra mà khôngcần phải có sự đồng ý của người quy định của pháp luật hiện hành, văn bản công chứng bị sai lỗi kỹ thuật có thể được sửa bởi công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công cả các công chứng viên đều phải là người đã được đào tạo nghề công chứngTheo quy định của pháp luật hiện hành, mức phí và thù lao công chứng do tổ chức hành nghề côngchứng ấn địnhHợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm công chứngTheo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân, tổ chức phải trực tiếp thực hiện thủ tục công chứng đối với tất cả hợp đồng, giao dịchTheo quy định của Luật công chứng 2014, người được bổ nhiệm công chứng viên có thể tự mìnhthành lập Văn phòng công chứng riêng để hành nghềTheo quy định của pháp luật hiện hành, việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chứchành nghề công chứngTheo quy định của pháp luật hiện hành, việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chứchành nghề công chứngTất cả các hợp đồng, văn vản về bất động sản mà bên bất động sản là người Việt Nam định cư ởnước ngoài, cá nhân nước ngoài phải được công chứng tại Phòng công chứng Luật sư là gì? Nghề luật sư là gì? Luật sư làm việc về cái gì? Điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình để trở thành Luật sư tại Việt Nam? Quy trình để trở thành Luật sư? Tính chất hoạt động của nghề luật sư?Kinh tế ngày phát triển sẽ dẫn đến mức sống, nhu cầu của người dân nâng cao hơn, quan tâm nhiều hơn đến những quy định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho bản thân và Luật sư luôn là đối tượng đầu tiên người dân nghĩ đến để được tư vấn và hỗ trợ. Để bén duyên với nghề, theo nghề và sống được bằng nghề chưa bao giờ là một câu chuyện đơn giản. Nghề luật sư là nghề luật tiêu biểu nhất, nghề luật sư thể hiện đầy đủ nhất những đặc trưng của nghề luật. Mục lục bài viết 1 1. Luật sư là gì? 2 2. Tiêu chuẩn để trở thành Luật sư tại Việt Nam 3 3. Các điều kiện cơ bản để trở thành Luật sư 4 4. Quy trình để trở thành Luật sư 5 5. Tính chất hoạt động của nghề luật sư Luật sư là người hành nghề liên quan đến lĩnh vực pháp luật khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật của mỗi quốc gia. Luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì yêu cầu về việc hành nghề luật sư còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp. Đây là một nét đặc thù riêng của nghề luật sư và nét đặc thù này tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng của luật sư. Trong suy nghĩ của chúng ta, hoạt động nghề nghiệp của luật sư bao gồm ba tính chất Trợ giúp, hướng dẫn và phản biện. 2. Tiêu chuẩn để trở thành Luật sư tại Việt Nam Để trở thành Luật sư tại Việt Nam, một cá nhân có thể mất một thời gian ít nhất là trên 6 nămhoặc dài hơn vì phải hoàn thành các khóa học, chương trình học, tập sự, kiểm tra theo quy định. Để trở thành Luật sư tại Việt Nam thì yếu tố đầu tiên cần đáp ứng là công dân Việt Nam. Trung thành Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật và có phẩm chất đạo đức tốt. Yếu tố thứ hai là có bằng cử nhân Luật. Hiện nay, ở nước ta có các trường luật, khoa luật đào tạo cử nhân ngành luật cho các bạn sinh viên có mong muốn làm luật sư hoặc các ngành khác trong hệ thống Tư pháp Việt Nam. Trải qua 04 năm đại học, đáp ứng được các điều kiện tối thiểu và bắt buộc của nhà trường sẽ được cấp bằng tốt nghiệp cử nhân luật. Sau khi bằng cử nhân luật các bạn sẽ tiến hành tham gia vào lớp đào tạo luật sư tại học viện tư pháp, trải qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, bộ tư pháp sẽ kết hợp tổ chức luật sư tiến hành kiểm tra kết quả tập sự hành nghề, sau khi trải qua các kì thi sẽ được cấp giấy chứng nhận hành nghề luật. Điều kiện để hành nghề luật sư cần đáp ứng đủ tiêu chuẩn hành nghề luật sư, có chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một đoàn luật sư trên lãnh thổ Việt Nam. 3. Các điều kiện cơ bản để trở thành Luật sư 1/ Có bằng cử nhân Luật Tức là cá nhân phải tốt nghiệp trường Luật, khoa Luật của trường Đại học thông thường là 4 năm học 2/ Có bằng tốt nghiệp chương trình đào tạo Luật sư Lớp học được đăng ký tại Học viện tư pháp quy định hiện hành được học trong 12 tháng, sau đó đạt kết quả qua kỳ thi tốt nghiệp của Học viện tư pháp, và được cấp bằng tốt nghiệp lớp Luật sư. 3/ Trải qua kỳ tập sự tại Tổ chức hành nghề Luật sư Sau khi tốt nghiệp lớp đào tạo Luật sư, cá nhân bắt buộc phải đăng ký tập sự tại 1 tổ chức hành nghề Luật sư với thời gian 12 tháng. 4/ Đạt điểm tại kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề Luật sư Sau khi hoàn thành thời gian tập sự, người tập sự được tham gia kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề Luật sư. Và nếu đạt điểm thì được cấp chứng chỉ hành nghề Luật sư. Nếu không đạt điểm theo quy định thì sẽ phải chờ đăng ký tham gia kỳ kiểm tra lại ở lần kế tiếp. 5/ Cấp chứng chỉ và gia nhập đoàn Luật sư, cấp thẻ hành nghề Luật sư Nếu đạt kết quả trong kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề Luật sư thì cá nhân làm hồ sơ theo quy định để xin cấp chứng chỉ hành nghề Luật sư do Bộ tư pháp cấp, xin gia nhập một Đoàn Luật sư và xin cấp thẻ hành nghề Luật sư do Liên đoàn Luật sư Việt Nam cấp. 6/ Hành nghề Luật sư Sau khi được cấp chứng chỉ, gia nhập đoàn, cấp thẻ hành nghề Luật sư thì Luật sư được lựa chọn tổ chức hành nghề Luật sư để hành nghề, hoặc hành nghề với tư cách cá nhân và phải đăng ký với Sở tư pháp địa phương nơi hành nghề. 7/ Quy định khác a/ Miễn, giảm thời gian tập sư hành nghề Luật sư – Người đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên cao cấp, điều tra viên trung cấp, giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật, thẩm tra viên cao cấp ngành Tòa án, kiểm tra Viên cao cấp ngành Kiểm sát, chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật được miễn tập sự hành nghề luật sư. – Người đã là điều tra viên sơ cấp, thẩm tra viên chính ngành Tòa án, kiểm tra viên chính ngành Kiểm sát, chuyên viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật được giảm hai phần ba thời gian tập sự hành nghề luật sư. – Người có thời gian công tác ở các ngạch chuyên viên, nghiên cứu viên, giảng viên trong lĩnh vực pháp luật, thẩm tra viên ngành Tòa án, kiểm tra viên ngành Kiểm sát từ mười năm trở lên thì được giảm một nửa thời gian tập sự hành nghề luật sư.” b/ Miễn kiểm tra tập sư hành nghề Luật sư – Người đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên cao cấp, điều tra viên trung cấp, giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật, thẩm tra viên cao cấp ngành Tòa án, kiểm tra Viên cao cấp ngành Kiểm sát, chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật được miễn kiểm tra. 4. Quy trình để trở thành Luật sư Để trở thành Luật sư là một quá trình gian nan và vất vả, bắt đầu từ khi bạn 18 tuổi và để có được chứng chỉ hành nghề luật sư vào năm bao nhiêu tuổi lại tùy thuộc vào khả năng của từng người. Có thể phụ thuộc từ khả năng tài chính, kiến thức và vô vàn những yếu tố bên ngoài tác động. Luật không phải là một ngành dễ học mà muốn trở thành luật sư thì càng không phải là điều dễ dàng. Thế nên, niềm đam mê, yêu thích nghề là yếu tố đầu tiên giúp bạn không từ bỏ trên con đường học luật, hành nghề luật. Các trường luật, khoa luật tại Việt Nam hiện nay khá nhiều từ trường đào tạo công lập đến đào tạo dân lập, tùy vào khả năng của các bạn mà lựa chọn ngôi trường mình yêu mến và có khả năng theo học để đăng ký học trong suốt 04 năm đại học. Thành quả cuối cùng của 4 năm đại học là tấm bằng cử nhân luật trên tay. Lúc này, sẽ có nhiều con đường để bạn lựa chọn theo con đường nghiên cứu học lên thạc sĩ, làm việc ở Tòa án, viện kiểm sát, đi làm ở các văn phòng luật sư, công ty luật, bộ phận pháp chế của các công ty,… Niềm yêu thích cộng với khả năng thì các bạn đã sẽ bắt đầu một quy trình học mới, học để trở thành Luật sư. Quá trình 1 tham gia khóa đào tạo luật sư tại cơ sở đào tạo luật sư. Hiện nay cơ sở đào tạo luật sư chỉ có ở Học viện tư pháp tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đào tạo là 12 tháng. Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo Luật sư sẽ được cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo luật sư. Quá trình 2 sau khi có giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo luật sư, tham gia tập sự hành nghề tại tổ chức hành nghề luật sư. Tổ chức hành nghề luật sư tại địa phương nào thì người tập sự tham gia vào đoàn luật sư của địa phương đó. Thời gian tập sự là 12 tháng. Yêu cầu đối với người hướng dẫn tập sự có ít nhất 03 năm kinh nghiệm hành nghề luật sư và không thuộc các trường hợp đang bị xử lý kỷ luật do vi phạm Luật luật sư, điều lệ và các quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp luật sư và quy định khác của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật sư. Mỗi luật sư không được hướng dẫn quá 03 người tập sự. Quá trình 3 Kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư. Sau 12 tháng tập sự hành nghề luật sư, ban chủ nhiệm Đoàn luật sư xem xét và lập danh sách những người tham gia kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư lên Liên đoàn luật sư Việt Nam. Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư sẽ tiến hành kiểm tra. Khi những người tập sự vượt qua bài kiểm tra sẽ được Hội đồng kiểm tra cấp giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư. Quá trình 4 Những người đã qua quá trình kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư phải chuẩn bị một bộ hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư lên ban chủ nhiệm Đoàn luật sư. Hồ sơ bao gồm những loại giấy tờ sau đây – Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề tập sự hành nghề luật sư theo mẫu; – Phiếu lý lịch tư pháp; – Giấy chứng nhận sức khỏe; – Bằng cử nhân luật hoặc bằng thạc sỹ luật bản sao; – Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư bản sao. Sau khi nhận đầy đủ hồ sơ, ban chủ nhiệm Đoàn luật sư sẽ chuyển hồ sơ và giấy đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư lên Sở tư pháp. Thời hạn gửi là trong vòng 07 ngày, kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ. Quá trình 5 Gia nhập đoàn luật sư. Trải qua bước 4, người có giấy chứng nhận kiểm tra tập sự hành nghề luật sư sẽ chuẩn bị bộ hồ sơ gồm – Giấy đề nghị gia nhập đoàn luật sư theo mẫu; – Phiếu lý lịch tư pháp trong vòng 06 tháng kể từ khi có chứng chỉ hành nghề luật sư; Lưu ý theo quy định của Luật luật sư hiện hành thì Những người thuộc các trường hợp sau đây sẽ được miễn đào tạo nghề luật sư quá trình 1 a Đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên; b giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật; c Đã là thẩm tra viên cao cấp trong ngành Tòa án, kiểm tra viên cao cấp trong ngành kiểm sát, chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật; d Đã là thẩm tra viên chính trong ngành Tòa án, kiểm tra viên chính trong ngành kiểm sát, chuyên viên chính, nghiên cứu chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật. Những đối tượng được miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư quá trình 2 – Miễn đào tạo nghề luật sư những đối tượng a, b, c thuộc miễn đào tạo nghề luật sư; – Đối với đối tượng d thuộc miễn đào tạo nghề luật sư nhưng không được miễn thời gian tập sự hành nghề luật sư. Họ chỉ được giảm 2/3 thời gian tập sự hành nghề luật sư; – Các chuyên viên, nghiên cứ viên, giảng viên, thẩm tra viên, kiểm tra viên có thời gian công tác từ 10 năm trở lên thì được giảm 1/2 thời gian tập sự hành nghề luật sư. 5. Tính chất hoạt động của nghề luật sư – Tính chất trợ giúp Do sự phát triển không đồng đều cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần, bất kỳ xã hội nào trong cộng đồng dân cư cũng tồn tại những người rơi vào vị thế thấp kém so với mặt bằng xã hội như người nghèo, người già đơn côi, người chưa thành niên mà không có sự đùm bọc của gia đình. Những người ở vào vị thế thấp kém này thường bị ức hiếp, bị đối xử bất công trái pháp luật và rất cần sự giúp đỡ, bênh vực của những người khác và đặc biệt cần sự trợ giúp hoàn toàn vô tư, không vụ lợi của luật sư. Ở thời kỳ cổ đại, những người dám đứng ra bênh vực, trợ giúp các đối tượng bị ức hiếp được xã hội tôn vinh như là các “hiệp sỹ”. Ngày nay, xã hội loài người đã phát triển nhưng ở nhiều nước, ở nhiều địa phương vẫn tồn tại những người ở vào vị thế thấp kém, vẫn tồn tại sự ức hiếp, sụ đối xử bất công. Hoạt động trợ giúp của luật sư đối với những đối tượng này không chỉ là bổn phận mà còn là thước đo lòng nhân ái và đạo đức của luật sư. – Tính chất hướng dẫn Tính chất nghề nghiệp đòi hỏi luật sư không chỉ thông hiểu pháp luật hiện hành mà còn hiểu biết cả tinh thần, nội dung những quy định của pháp luật ở từng thời điểm của thời gian đã qua. Luật sư còn phải hiểu sâu rộng cả tục lệ và bản sắc văn hoá của dân tộc. Mọi người hiểu và nghĩ về luật sư như vậy, cho nên mỗi khi bản thân hoặc gia đình có điều gì vướng mắc đều tìm đến luật sư, nhờ luật sư tư vấn. Vì vậy, hoạt động của luật sư luôn luôn có tính chất hướng dẫn. Yêu cầu của hoạt động này là hướng dẫn cho đương sự hiểu đúng tinh thần và nội dung của pháp luật để biết cách xử sự tháo gỡ vướng mắc của họ phù hợp với pháp lý và đạo lý. – Tính chất phản biện Tính chất phản biện trong hoạt động của luật sư là những biện luận nhằm phản bác lại lý lẽ, ý kiến quan điểm của người khác mà mình cho là không phù hợp với pháp lý và đạo lý. Tính chất phản biện trong hoạt động của luật sư, thông thường thể hiện ở lĩnh vực tố tụng, đặc biệt là trong tố tụng hình sự. Điều 36, khoản 3 Bộ Luật tố tụng hình sự hiện hành quy định “Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”. Phản biện là phải dựa trên sự thông hiểu tường tận về pháp lý và đạo lý. Hoạt động phản biện của luật sư là lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định rõ phải trái, đúng sai…từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp bảo vệ lẽ phải, loại bỏ cái sai, bảo vệ công lý. Ở đây có thể có câu hỏi đặt ra là trong trường hợp không phát biện ra điều gì sai, không có cơ sở để phản biện thì luật sư sẽ làm gì?. Xin nêu một câu ngạn ngữ phương Tây “Luật sư chỉ giỏi khi gặp Công tố viên tồi”. Câu ngạn ngữ này có nghĩa là khi người tiến hành tố tụng hoạt động hoàn toàn đúng pháp luật với những nhận định và kết luận chuẩn xác thì không còn chỗ cho luật sư phản biện. Luật sư không còn chỗ để phản biện, cũng giống như thầy thuốc không có bệnh nhân để chữa thì thật là hạnh phúc. Hoạt động của luật sư trong trường hợp này chỉ còn ý nghĩa là người chứng kiến. Việc chứng kiến của luật sư không phải là không quan trọng. Trong nhiều trường hợp, sự hiện diện của luật sư là chỗ dựa tin cậy của bị can, bị cáo. Sự chứng kiến của luật sư trong khi hỏi cung, khi đối chất, khi xét xử đảm bảo chắc chắn rằng quyền và lợi ích hợp pháp mà pháp luật dành cho bị can, bị cáo sẽ được bảo đảm. Người phạm tội phải chịu sự trừng phạt của pháp luật, nhưng không thể bị tra tấn, đánh đập, hành hạ về thể xác cũng như xúc phạm nhân phẩm. Sự có mặt của luật sư là cần thiết bởi những người đã lâm vào vòng lao lý, phải đối mặt với uy lực của cơ quan công quyền, không phải ai cũng có đủ can đảm tự bảo vệ quyền hợp pháp của mình. Người xưa đã có câu “Khôn ngoan đến cửa quan mới biết”. Do vai trò và tác dụng của hoạt động luật sư, nên Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã nêu rõ “Bằng hoạt động của mình luật sư góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội và pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị viết “Các cơ quan Tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng tham gia hỏi cung bị can, bị cáo, nghiên cứu hồ sơ vụ án tranh luận dân chủ tại phiên toà…” Xuất phát từ tính chất, đặc thù của nghề luật sư, nó đòi hỏi luật sư ngoài các phẩm chất chung là Chân, Thiện, Mỹ, luật sư còn phải là người có khối óc thông minh, tấm lòng trong sáng, dũng cảm, biết lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm cơ sở hoạt động mới xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của xã hội. Nghề luật sư hoạt động dựa trên pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp Cũng như bất cứ hoạt động nghề nghiệp nào khác, nền tảng hoạt động của nghề luật sư phải dựa trên pháp luật và các quy chế trách nhiệm nghề nghiệp. Pháp luật về luật sư được coi là hệ thống các quy phạm pháp luật xác định vị trí, vai trò của luật sư trong xã hội, quy định các quyền và nghĩa vụ của luật sư trong hành nghề, phạm vi quản lý Nhà nước đối với hoạt động luật sư và tính tự quản trong tổ chức nghề nghiệp luật sư; xử lý vi phạm trong hoạt động nghề nghiệp… Tuy nhiên, khi nói tới quy chế trách nhiệm nghề nghiệp như chuẩn mực nền tảng đạo đức và kỷ luật của hoạt động luật sư thì cũng không có nghĩa là quy chế này “chi phối luật sư cả trong công việc và đời sống riêng của họ” như có tác giả đã đề cập. Tuy đối tượng và phạm vi điều chỉnh của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp luật sư có khác nhau, nhưng giữa chúng có mối liên hệ mật thiết và chi phối lẫn nhau. Pháp luật về luật sư có tác dụng như “hành lang”, “khuôn mẫu chung” cho luật sư hoạt động với các quyền và nghĩa vụ cụ thể trước pháp luật, còn quy chế trách nhiệm nghề nghiệp luật sư lại chủ yếu điều chỉnh hành vi ứng xử của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp và trong xã hội, tuy không hoàn toàn mang tính bắt buộc nhưng cũng đòi hỏi phải được sự tôn trọng từ phía các luật sư. – Nghề luật sư là bất khả kiêm nhiệm Bất khả kiêm nhiệm như một đặc điểm trong hoạt động của nghề luật sư không chỉ bảo đảm hoạt động này mang tính chuyên nghiệp, mà còn góp phần nâng cao vị trí, vai trò của luật sư trong xã hội. Mặt khác, về phương diện pháp lý, Pháp lệnh công chức quy định cán bộ, công chức không được thành lập và tham gia thành lập, quản lý điều hành các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã, trường học, tổ chức nghiên cứu khoa học tư; không được tư vấn về các công việc có liên quan đến bí mật Nhà nước, bí mật công tác, các công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình… Quan điểm của những nhà làm luật cho rằng, để tiến tới chuyên nghiệp nghiệp hóa đội ngũ luật sư, cần thực hiện nguyên tắc bất khả kiêm nhiệm để luật sư có thể chuyên tâm với nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu giúp đỡ pháp lý ngày càng phong phú và phức tạp của nhân dân. – Nghề luật sư là hoạt động mang tính quốc tế Tính chất quốc tế của hoạt động nghề nghiệp luật sư hình thành cùng với sự phát triển của nghề luật sư trong lịch sử. Cùng với sự phát triển của các hình thái kinh tế- xã hội của loài người, các cuộc chiến tranh liên miên đã kéo theo sự xê dịch của các nền văn hóa và pháp lý. Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế và chủ động hội nhập đời sống quốc tế, luật sư các nước trên thế giới đã mở rộng phạm vi và lĩnh vực hoạt động ra khỏi biên giới quốc gia, đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong việc thúc đẩy các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội giữa các nước. Người ta đã quen với hình ảnh bên cạnh các doanh nghiệp quốc tế đến làm ăn tại Việt Nam có một đội ngũ luật sư giúp tư vấn và soạn thảo hợp đồng, tham gia giải quyết tranh chấp. Các hiệp ước song phương và đa phương ký kết giữa các nước có sự tham gia soạn thảo của các luật sư giàu kinh nghiệm. Trong điều kiện đất nước chủ động tham gia tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp quy điều chỉnh hoạt động hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam, theo đó các luật sư nước ngoài chỉ được tư vấn về pháp luật nước ngoài, pháp luật quốc tế trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại, không được tư vấn pháp luật Việt Nam, không tham gia tố tụng trước Tòa án Việt Nam. Nhiều luật sư Việt Nam đã tham gia giải quyết các vụ kiện tranh chấp có yếu tố nước ngoài tại các Tòa án, trọng tài quốc tế…

nhận định môn công chứng luật sư